Thành Điện Hải – Chứng nhân lịch sử của người dân Đà Thành

Tọa lạc ngay trung tâm quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, thành Điện Hải, một di tích quan trọng trong lịch sử phát triển của Việt Nam, đây là nơi đã ghi lại dấu ấn về cuộc đấu tranh anh dũng chống thực dân Pháp của nhân dân Đà Nẵng và nhân dân cả nước nói chung.

Thành Điện Hải ban đầu có tên gọi là đồn Điện Hải, được xây dựng dưới thời vua Gia Long năm 1813 nơi tả ngạn sông Hàn, gần cửa biển Đà Nẵng. Dưới thời vua Minh Mạng, đồn Điện Hải được dời vào bên trong đất liền và được dựng lại bằng gạch. Đến đời Minh Mạng thứ 15 được đổi tên là thành Điện Hải. Năm 1847, năm Thiệu Trị thứ 7, thành Điện Hải được mở rộng về quy mô (chu vi lên đến 139 trượng), với tường thành cao 11 trượng 2 thước, chung quanh là hào sâu 7 thước. Thành có 2 cửa, cửa chính nhìn xuống sông Hàn, cửa phụ mở về phía Nam. Trong thành có hành cung, có kỳ đài, có các kho chứa quân lương, vũ khí,… và hơn 30 ụ súng cỡ lớn. Giai đoạn từ 1858 – 1860, dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Tri Phương, đội quân triều Nguyễn với những khẩu thần công được bố trí ngay trên các ụ súng quay mặt ra biển đã đánh lui hàng chục đợt tấn công của quân Pháp ngay tại cửa sông Hàn, giành chiến thắng oanh liệt trước đội quân hùng mạnh vào bậc nhất thế giới lúc bấy giờ.

Thành Biện Hải qua những thước ảnh xưa.
Thành Biện Hải qua những thước ảnh xưa.

Hơn hai trăm năm đã trôi qua, thời gian không thể xóa nhòa tất cả, thành Điện Hải vẫn âm thầm năm bên đường Trần Phú như một chứng tích lịch sử về những ngày tháng đau thương mà anh dũng trong cuộc chiến bảo vệ quê hương. Gần đây, di tích thành Điện Hải được trùng tu, gia cố, phục hồi lại nguyên trạng. Bên cạnh những khẩu thần công năm ấy, nơi đây tượng đài của tướng Nguyễn Tri Phương đã được dựng lên, anh dũng và uy nghi như để nhắc nhớ về  một giai đoạn lịch sử hào hùng của thành phố.

Nếu một lần ghé thăm Đà Nẵng, du khách nên dừng chân với thành Điện Hải, một không gian hấp dẫn đậm chất lịch sử để được chiêm nghiệm, cảm nhận và hiểu thêm về lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đầy đau thương của dân tộc Việt Nam.

Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế – Nơi lưu giữ nhiều cổ vật triều Nguyễn

Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế là viện bảo tàng thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Tòa nhà chính của viện được dựng nên từ 128 cây cột gỗ quý được chạm khắc hình tứ linh: long – lân – quy – phụng và cả ngàn bài thơ bằng chữ Hán. Nhà trưng bày chính của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế là một kiến trúc cung đình thời Nguyễn, có tên là Điện Long An. Bản thân công trình này được coi là hiện vật – cổ vật trưng bày lớn nhất của bảo tàng có giá trị rất cao về cả lịch sử và nghệ thuật. Bên trong bảo tàng trưng bày hơn 300 cổ vật thời Nguyễn được làm bằng vàng, sành, sứ và pháp lam Huế. Bên cạnh đó còn có nhiều cổ vật là ngự y, ngự dụng và trang phục của hoàng thất nhà Nguyễn…

giấy chứng nhận
Là Viện Bảo tàng được yêu thích nhất năm qua.

Hiện bảo tàng đang trưng bày số lượng hiện vật khổng lồ về triều đại phong kiến cuối cùng, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế đưa đến cho du khách cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống xa hoa của hoàng thất và cả vương triều Nguyễn ở cung đình Huế; sự thăng trầm của lịch sử; văn hoá; xã hội đất kinh kỳ cũng như sự giao lưu – tiếp biến văn hoá ở đất cố đô nói riêng và ở cả đất nước Việt Nam nói chung trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động.

Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế, nơi lưu giữ đầy đủ nhất những hiện vật, những chứng nhân ghi dấu về một thủa vàng son nay đã trở thành ký ức. Mặc dù trải qua vô số những cuộc chiến tranh, cùng những biến động lớn về chính trị xã hội; rất nhiều cổ vật đã bị mất mát, thất thoát, lưu lạc nhưng hiện bảo tàng vẫn có hơn 10.000 cổ vật quý được trưng bày ở điện Long An và trong các kho lưu trữ.

namdulichquocgai_2103_2
Một số cổ vật được lưu giữ tại Viện Bảo tàng

Các cổ vật quý giá này phần lớn có niên đại trong giai đoạn vua chúa triều Nguyễn. Các cổ vật phong phú về chủng loại, chất liệu; được phân mục thành gần 17 bộ sưu tập. Phần nhiều là các sản phẩm mỹ nghệ do các nghệ nhân hàng đầu chế tác theo lệnh của triều đình, hoặc các sản phẩm đặt hàng từ châu Âu, một số từ Trung Quốc… vì vậy thuộc loại hàng độc bản – độc nhất vô nhị.

Điện Long An – Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (là cung điện tráng lệ bậc nhất ở Kinh thành, một di tích quan trọng trong Quần thể di tích cố đô Huế được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới) và những gì chứa đựng bên trong thực sự là một di sản quý báu.

Điện Long An – Bảo tàng Mỹ thật Cung đình Huế

Du khách đến Huế, đến với những danh lam thắng cảnh, với những cung điện vàng son giữa trập trùng núi đồi phía tây Kinh Thành Huế…

Điện Long An một danh lam như thế, nơi mà mỗi lần đến Huế, du khách nên tự mình tìm đến, bước qua bậc tam quan vào với cánh cửa gỗ đang rộng mở, để khám phá những gì ẩn giấu bên trong.

Nằm trong tổng thể kiến trúc cung Bảo Ðịnh được xây dựng vào năm 1845 dưới thời vua Thiệu Trị ở bờ Bắc sông Ngự Hà (gần cầu Vĩnh Lợi, phường Tây Lộc). Đến năm 1885, bị quân Pháp lục soát thô bạo và cho triệt hạ khi Kinh thành Huế thất thủ. Mãi đến năm 1909, đời vua Duy Tân, Điện Long An được chuyển ra vị trí mới hiện nay và phục dựng làm Tân Thơ Viện với mục đích lưu giữ các tư liệu bằng chữ Hán, tiếng Anh, Pháp, …. phục vụ cho học sinh trường Quốc Tử Giám.

bao-tang-my-thua%cc%a3t

Điện Long An sau khi trùng tu.

Tháng 8 năm 1923, Khâm Sứ Trung kỳ và vua Khải Ðịnh cùng ban sắc đem Ðiện Long An làm Bảo tàng Khải Ðịnh. Ngày nay, điện Long An được biết đến là Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, là nơi trưng bày và lưu giữ cổ vật cung đình Huế.

Vốn dĩ là bảo tàng mỹ thuật, là một báu vật của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, Điện Long An còn là một kiến trúc tuyệt đẹp; là cung điện tráng lệ bậc nhất trong Kinh thành Huế nhưng có số phận long đong, là nơi lưu giữ nhiều nhất, đầy đủ nhất, chứa đựng một số lượng hiện vật khổng lồ ghi dấu về triều Nguyễn và cung đình Huế trong quá khứ; một thủa vàng son nay đã trở thành ký ức. Đây thực sự là một địa chỉ văn hoá hấp dẫn du khách.

bentrong-dien-long-an

Du khách thăm quan Điện Long An.

Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm, bị thay đổi không chỉ là tên gọi mà còn thay đổi cả vị trí trong một khoảng thời gian dài; Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, may mắn vẫn tồn tại. Điện Long An luôn được đánh giá là ngôi điện tráng lệ nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình triều Nguyễn.

Hành trình đến với Điện Long An không chỉ mang đến cho du khách những khám phá mới về ngôi điện đã tồn tại hơn 1,5 thế kỷ mà đây còn là chứng nhân lịch sử với một sức hấp dẫn đặc biệt khi đến viếng thăm đất cố đô.

Chuyển nước Mekong, đồng bằng sông Cửu Long sẽ khô hạn

Cùng với hệ thống thủy điện thượng nguồn, chuyển nước Mekong sẽ là áp lực khổng lồ lên đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nhất là khi vùng này vừa trải qua đợt hạn hán kỷ lục một thế kỷ.

Nhu cầu sử dụng nước tưới trong nông nghiệp của các quốc gia lưu vực sông Mekong đang tăng mạnh. Trong 4 nước hạ lưu Mekong, Thái Lan có số lượng công trình tưới tiêu nhiều hơn cả với 6388 công trình nằm dọc theo hành lang của các sông, quanh các hồ chứa lớn và các đập dâng, trong đó vùng đông bắc là trung tâm sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm, nhiên liệu sinh học của Thái Lan.

14494794_1122914507762404_7949271211694859338_n

Việt Nam, Thái Lan, Campuchia đều là những nước lấy nông nghiệp làm chính.

Thái Lan và Campuchia cũng đang triển khai một dự án chuyển nước khổng lồ trị giá 200 triệu USD. Đất nước có 2,8 triệu ha đất trồng lúa này rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp. Diện tích tưới tiêu hiện nay của Campuchia là 504.245 ha và dự kiến tăng lên 772.499 ha vào năm 2030.

Campuchia đang hợp tác với Trung Quốc xây dựng hệ thống kênh mương thủy lợi, chủ yếu dọc sông Mekong. Đặc biệt là các dự án nhằm chuyển nước lũ sông Mekong chảy tràn qua bờ tả và qua sông Samdei (một nhánh của sông Mekong) vào trữ tại hồ Krapik sau đó dẫn nước cho vùng trồng lúa ở phía hạ lưu 3 tỉnh. Diện tích tưới là 108.300 ha trong mùa mưa và 27.100ha trong mùa khô. Năm 2014, đã đưa vào vận hành hệ thống đập đầu mối, các kênh, các cửa van điều tiết cùng các cống.

Thái Lan và Campuchia thường lấy/chuyển nước sông Mekong qua các dòng nhánh vào các hồ, đập có cửa van khống chế để trữ nước. Vì vậy, khi mực nước lũ xuống thấp, hầu như không còn dòng chảy ngược lại sông Mekong như trước đây khi mà tất cả các dòng nhánh bên bờ hữu sông Mekong thuộc Thái Lan và Camphuchia đều có các trạm bơm chuyển nước vào trữ trong các hồ. Khi lượng nước lũ giảm cùng với việc bị thay đổi dòng chảy, hiện tượng lũ lớn hay còn gọi lũ đẹp vốn đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân sẽ ít xuất hiện. Ngoài lưu lượng nước, lượng phù sa cũng sẽ suy giảm. Tác dụng thau chua, rửa phèn, bồi bổ chất dinh dưỡng cho các diện tích đất canh tác ở ĐBSCL chắc chắn bị ảnh hưởng.

Các chuyên gia cho rằng đã đến lúc Việt Nam phải quan tâm nhiều đến vấn đề chuyển nước Mekong. Bà Đỗ Hồng Phấn, cố vấn trưởng Mạng lưới Vì nước cho rằng, bấy lâu nay bàn nhiều về vấn đề phát triển thủy điện mà lơ là vấn đề chuyển nước vốn được nói đến từ vài chục  năm trước.